Bài này được gợi ý từ một bức ảnh hoa mận trên tường nhà bạn Nguyễn Thanh Bình. Hồi ấy viết có một khúc. Tết này báo NNVN đặt một bài, đã viết kĩ thêm. Có những chi tiết mình rất thích, có những hình ảnh mình rất nhớ, có những câu nói rất dễ thương (với mình). Vừa nhận được báo. Bao giờ nhận được báo, có bài của mình, mình cũng ngồi cặm cụi đọc lại. Rất buồn cười là khi nào nhận được báo mình cũng không thể bỏ qua một động tác là ngồi xuống bàn, giở báo ra, và cặm cụi đọc lại không sót môt dấu chấm nào, chính cái bài mà mình đã viết rất cẩn thận trước đó.

Có bài này, phải cảm ơn bạn Bình lần nữa.

 alt

 Xuân về, đôi khi lại gặp ở đâu đó hình ảnh một cành hoa mận.

 Hoa mận có một vẻ đẹp tinh khiết đến kì lạ và gần như không thể diễn tả được.

 Ở miền núi, mận là một thứ cây hiền lành vô cùng, khiêm nhường và giản dị vô cùng. Nếu gia chủ nào chú ý thì nó sẽ được trồng ở một chỗ đất màu mỡ một chút, ẩm ướt một chút, thoáng đãng một chút, gia chủ không để ý, thì hạt mận do bọn trẻ con nhè ra, rơi xuống đâu sẽ tự mọc lên ở đó. Cho đến khi nó cao ngang đầu gối thì gia chủ mới thốt lên: Ồ, một cây mận này. Nó mọc lên ở đây từ bao giờ thế không biết. Và mận cứ thế lớn lên. Khi nó đã cao một chút, thì có thể mỗi ngày sẽ có thêm cái dây xích con chó buộc dưới gốc. Tiện cho chó nằm canh cổng. Lớn lên chút nữa, đứa con trai nhỏ sẽ tìm một cành có chạc ba, làm súng cao su. Lớn lên tí nữa, sẽ có một cặp chim sẻ tha rác về làm một cái tổ nhỏ xíu tít trên ngọn. Nhưng nói chung, mận như người đàn bà, lặng lẽ cống hiến và nhẫn nhịn chịu đựng.

Mùa xuân, nhà nhà thi nhau chặt cành đào mang vào nhà cắm chơi mấy ngày tết. Riêng cây mận cứ đứng đó, trong cái gió lạnh buốt từ thung lũng thổi ra, từ dưới sông thốc lên, lá già rụng hết, trơ toàn cành là cành, gầy guộc vô cùng. Rồi một sáng kia, nó bỗng bừng nở, hàng ngàn bông hoa xòe cánh trắng, hàng ngàn búp xanh nõn nà nhú ra khỏi cành, cho đến tận lúc ấy, người ta vẫn chẳng nhận ra. Đàn ông đàn bà, thanh niên, trẻ con, đi dưới tán mận, đi qua gốc mận, cánh hoa mận rụng xuống đầu, đều không hề đoái hoài.

Tết đến, hàng chục năm nay, không năm nào tôi không mơ ước có một cành mận đầy hoa trắng, với lá non xanh mướt đầu cành. Thế mà tuyệt nhiên ở Hà Nội người ta không chơi hoa mận. Có tìm mỏi mắt cũng không thể kiếm được một cành mận đầy hoa, đầy lá non. Nhớ tết năm nào, tôi đã từng viết cho một người bạn một bài tết, bài ấy có tên “Chiếc vòng bạc có hình hoa cúc”. Khi viết, tôi nhớ cây mận nhà mình. Nó nằm tít cuối vườn, sát với bờ rào bằng cây dứa. Xuân đến nó ra hoa, hoa trắng ơi là trắng, lá thì xanh vô cùng. Dưới gốc, những cái lá cỏ ướt đẫm sương, lạnh ơi là lạnh. Đúng là tôi luôn nhớ đến nó. Mỗi khi nhìn thấy hoa đào nở ở phố, tôi lại nhớ nó. Nhớ nhất lúc nó ra hoa, vì mùa mận chín thì chẳng mấy khi tôi có mặt ở nhà. Quả mận có loại rất ngon, rất giòn. Có loại khi chín thì đỏ bầm như màu rượu vang, thường gọi là mận máu. Có loại khi chín vẫn xanh mướt, ăn giòn tan, vị ngọt mà thanh. Cũng có loại như cây dại, quả không thể ăn được, vừa đắng, vừa chua. Nhưng dù quả khác nhau nhưng hoa lại rất giống nhau. Trắng đến nhức cả mắt, trắng đến quá cả mức trắng. Và những cái mầm lá thì xanh vô cùng. 

Lại nói cây mận nằm ở cuối vườn.

Khi một cây cam – thứ cây kinh tế nhất trong vườn nhà – bị sâu bệnh chết đi – bố tôi trồng thế vào chỗ đó một cây mận. Vì nếu trồng lại cam, mầm bệnh dưới đất vẫn còn, cây cam non sẽ lại mắc bệnh. Nên cây mận có chỗ đặt chân vào. Với người làm vườn có nghề thì một trong những nguyên tắc bất di bất dịch là phải để khoảng trống cho cây nó “thở”. Và phải biết chọn lựa bỏ cây nào, để cây nào, chứ không thể chỉ có bằng ấy đất vườn mà hễ cây gì mọc lên cũng để cho nó mọc. Bố tôi nói, cây cũng như người, chen chúc nhau mà sống thì phải đấu tranh, trong đấu tranh phải có mất mát, thiệt thòi. Nên tốt nhất là không nên để cây phải đấu tranh mà sống. Giữa các cây phải có chỗ cho ánh nắng rọi xuống cỏ, có chỗ cho mưa rơi xuống nền đất.

Thế là cây mận có một chỗ. Cây mận hồi đó chưa được lai tạo nên không phải là một thứ cây kinh tế, chỉ là cây dành cho trẻ nhỏ. Tức là nếu có ra quả, cũng chỉ phục vụ cho trẻ nhỏ, không mang lại một đồng nào cho người làm vườn. Và người làm vườn nào cũng có những cây như vậy – cây dành cho trẻ nhỏ.

Tôi nhớ mùa đầu tiên nó ra hoa. Tán của nó đã cao hơn đầu tôi, cao hơn cả anh trai tôi. Chắc phải ba – bốn năm gì đấy sau khi được trồng xuống từ một cái cây nhỏ xíu. Một buổi sáng, áp tết, trời buốt như có hàng trăm mũi kim xuyên qua da. Anh tôi vác dao quắm đi một vòng quanh vườn để dọn sạch những cành cây dại mọc từ ngoài rừng vắt vào vào trong vườn nhà. Chỉ riêng việc chặt những cành cây dại, dây leo từ ngoài bìa rừng vắt vào vườn cũng phải mất cả ngày trời. Bất chợt, tôi nghe anh gọi thảng thốt. Tôi chạy ra, và thấy anh đang đứng sững trước cây mận. Ô kìa, trên những cái cành đang trổ đầy lộc non, những bông hoa nhỏ xíu đang nở ra, như nụ cười của một cô bé xinh xẻo. Cây mận này, anh em chúng tôi yêu nó biết mấy. Vì nó chính là một cái dây dành cho trẻ nhỏ. Người lớn có thể không bận tâm vì nó chẳng mang lại lợi lộc kinh tế gì, nhưng trẻ con thì thật sung sướng. Tôi biết, sáng nào khi vừa trở dậy, chưa kịp rửa mặt, anh tôi đã mắt nhắm mắt mở phi ra vườn. Vườn còn ướt đẫm sương đêm. Người chạy trước, chó chạy sau, tiếng chân người lịch bịch, tiếng móng chân chó gõ trên đá lát sân lách cách. Anh tôi chạy ra cây mận, để làm mỗi một việc: Tè vào gốc mận. Anh bảo, tè vào đấy cho nó chóng lớn. Còn nói thêm, em cũng phải chạy ra đấy mà tè, nhớ chưa.

Làm xong cái việc gọi là “cho cây mận chóng lớn” ấy, anh lại lịch bịch chạy về, chó cũng lạch cạch chạy về. Sương còn mờ mịt, đứng ở đầu sân bên này không nhìn thấy dây phơi đầu sân bên kia. Mặt ao còn mờ hơn nữa, như có một núi sương nặng trịch đang đè trên mặt nước.

Chiều, đi học về, vừa quăng cặp sách, anh lại chaỵ ra vườn. Vừa chạy vừa xách quần, miệng làu bàu: Nhịn mãi, đau cả bụng.

Cỏ dưới gốc mận lên xanh mướt. Bố tôi vừa đưa quà vào gốc, làm sạch vài hôm, lại lên xanh mướt.

Cây mận cũng lớn nhanh vùn vụt, mùa trước cao ngang vai tôi, mùa sau đã lên quá đầu anh tôi.

Lại nói anh tôi đứng thần ra dưới cây mận, bên trên những bông hoa đang rung rinh nở ra. Sương đêm vẫn chưa tan hết, còn đậu trên đầu cành như những hạt ngọc trong suốt. Đậu trên những cánh hoa tinh khiết, trên những chiếc lá vừa nhú xanh như chưa từng được xanh. Mùa đầu tiên cây mận bói được khoảng ba chục quả. Bố tôi bảo phải vặt hết quả ở vụ đầu tiên đi thì vụ sau cây mới có sức, nhưng anh tôi tiếc, chỉ vặt đi chừng một nửa những quả còi, xấu, còn thì giữ lại. Những quả mận xanh nõn, bên ngoài phủ một lớp phấn trắng. Ngày nào anh em tôi cũng đếm đi đếm lại, sợ nó rụng mất, sợ chim ăn mất, sâu đục mất. Thế mà cho đến lúc mận chín cũng chỉ còn mười một quả. Mười một quả mận ấy được chia đều cho năm người, tôi bé nhất được ba quả.

Anh tôi cầm hai quả mận được chia trong tay, lại bần thần ngồi dưới gốc mận nhìn lên tán lá. Như thể cảm thấy có lỗi vì đã bứt những quả mận ra khỏi cành. Con chó ngồi chồm hổm bên cạnh, đầu nó cao hơn đầu anh tôi. Anh tôi hỏi nó:

- Mày có ăn mận không hả chó?

Con chó hục hoặc cái đầu, mũi khịt khịt.

- Tao chia cho mày một quả nhá.

Anh xòe một bàn tay ra trước mặt con chó, trên đó có một quả mận. Con chó dí mũi hít hít mấy cái, quay mặt đi.

Anh tôi giữ hai quả mận mãi, cho đến khi không ăn được nữa. Lại đem hai cái hạt gieo xuống miếng đất cạnh bờ ao mẹ hay dành để trồng rau thơm.

Vừa gieo hạt mận xuống đất, anh tôi vừa bảo: Nếu mình chăm tốt, sang năm được mùa, mình sẽ bán đi. Anh sẽ lấy tiền đó mua một cái xăm xe đạp.

Số là anh tôi hàng ngày phải đạp xe đi học cách nhà mười cây số. Cái xe được bố sửa rất cẩn thận, nhưng vì cái xăm rách nát quá, không thể vá được nữa nên bố buộc phải nhồi hai cái lốp vào với nhau, thay cho việc dùng xăm. Đạp xe bằng lốp, không xăm, chắc là mệt lắm nên anh tôi mới ước thế.

Cây mận lớn nhanh hơn anh em chúng tôi rất nhiều. Mùa sau, sau nữa thì cái chạc ba ở lưng chừng thân cây đã đủ vững để anh tôi leo lên đó, đung đưa hai chân suốt buổi trưa và đọc một cuốn sách đã rách nát vì chúng tôi đọc đi đọc lại quá nhiều lần. Cuốn sách đó có tên “Chó hoang Đin gô hay là Câu chuyện mối tình đầu”. Cuốn sách của một nhà văn người Nga, dành cho thiếu nhi, với những bức minh họa rất đẹp.

Anh tôi vào đại học, cây mận đã thành một cây mận cổ thụ. Muốn hái quả phải dùng một cái sào dài bằng nứa. Đầu sào được chẻ ra, đan thành một cái giỏ, đặt cái giỏ ấy dưới chùm mận, xoay nhẹ một cái, mận sẽ rơi hết vào giỏ. Mùa mận chín anh không ở nhà, bố mẹ tôi hái mận rồi đem chia cho bọn trẻ trong làng. Tết anh về, việc đầu tiên vẫn là chạy ra gốc mận. Cho tôi ngồi lên vai anh và bảo hái cho anh một chùm hoa. Chùm hoa lạnh buốt như vừa ngâm trong nước đá. Anh bảo: Mận, mày vẫn nợ tao một cái xăm xe đạp.

Sau này bố mẹ tôi bán khu vườn. Trong bao nhiêu thứ phải từ bỏ, phải chia tay, thì thứ mà anh em tôi tiếc nhất, không thể mang theo, chính là cây mận. Khi đó, nó đã cao chắc phải gần bằng nóc nhà. Cái chạc ba khi xưa anh hay vắt vẻo trên đó để gặm nhấm cuốn sách long bìa rách gáy đã cao hơn tầm với.

Thật là, nhớ cây mận ấy biết mấy.

Đ.B.T