dobichthuy

Còn nếu em đi cô đơn buồn tủi trên đời,
không ai yêu em nữa,
thì có nghĩa ở một nơi nào đó.
trên núi cao, Raxun Gamzatốp chết rồi...

(Rasul Gamzatovich Gamzatov)

  
« January 2012 »
Mo Tu We Th Fr Sa Su
            1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28 29
30 31          
  • bạn bè
  • Tổng số bài viết: 125
  • Tổng số góp ý: 349
  • Tổng số trackbacks: 0
  • Tổng số lượt xem bài: 37.480
  • dobichthuy | 10 January, 2012 15:55

    Truyện ngắn này tôi viết cho Kinh tế đô thị số tết. Báo vừa ra sáng nay. Là truyện ngắn đầu tiên về Hà Nội, nơi tôi đã cư ngụ mười lăm năm qua. Mười lăm năm vẫn chưa đủ dài để một người viết tự tin viết về vùng đất mà mình đang sống, nhất là một nơi đã có quá nhiều người thành danh với văn chương, nhờ văn chương. Tôi là kẻ đến sau, mạo muội viết về những điều mình đã cảm nhận được, không dám nói là gan ruột. Khi viết truyện ngắn này, tôi luôn hình dung thấy bà chị cả của chồng tôi. Cho nên, cũng có thể gọi bà là nguyên mẫu.

     

    alt

     

    CHIẾC HỘP KHẢM TRAI

     

    Truyện ngắn: ĐỖ BÍCH THÚY

     

    Bình lặng đi khi nghe thấy phía bên kia cánh cửa tiếng mẹ chồng nói với chồng:

    - Mẹ đã đến rồi, nhà chùa nói hiện đang có hai bé một trai, một gái, đều bốn tháng tuổi. Đứa nào cũng khỏe mạnh, ăn ngoan, ngủ ngoan. Ý mẹ muốn nhận bé trai, con thì sao?

    Không thấy Hải trả lời, chỉ nghe tiếng thở dài rất khẽ. Một lát, mẹ lại nói:

    - Cũng không dễ gì gặp được cơ hội này con ạ. Cái gì cũng có duyên, có số cả.

    Bình và Hải lấy nhau đã bốn năm vẫn không có con. Bố Hải mất sớm, mình mẹ ở vậy nuôi Hải. Khi hai người lấy nhau, lẽ đương nhiên phải về sống cùng với mẹ. Mẹ Hải khi xưa là thợ may có tiếng ở Hà thành. Chiếc máy khâu cũ kĩ vẫn được giữ gìn như một kỉ vật ở một vị trí dễ nhìn thấy ngay trong phòng khách, lúc nào cũng bóng loáng. Bà đã nghỉ việc từ lâu, kể từ khi Hải học hành xong, đi làm. Phía ngoài của căn hộ, bà cho người ta thuê để bán túi xách, dây lưng, ví da.

    Hồi Bình mới về làm dâu, cũng có lần cô nói với mẹ chồng thôi đừng cho người ta thuê nữa, để cho nhà cửa sáng sủa. Vả lại, hai vợ chồng cô đi làm đều có thu nhập khá, thừa sức nuôi bà. Nhưng bà bảo, các con đi làm suốt ngày, mẹ ở nhà một mình, có người vào ra cũng đỡ buồn. Mà giá cho thuê cái cửa hàng chỉ chừng hơn chục mét vuông cũng đáng kể lắm.

    Căn nhà nằm ngay mặt phố. Sâu hun hút. Cả con phố này, nhà nào cũng sâu hun hút thế. Lần đầu tiên đến ra mắt mẹ chồng tương lai, bước chân vào, Bình phải dụi mắt mấy cái mới quen lối đi lại. Trong nhà, suốt ngày phải bật điện.

    Mẹ chồng Bình là người rất kĩ lưỡng, sạch sẽ, ngăn nắp. Lúc nào đặt chân xuống sàn nhà cũng cảm thấy mát lạnh, không gợn một hạt bụi. Bàn ghế, đồ dùng trong nhà cũng vậy, luôn như lau như ly. Phía sau cửa hàng cho thuê là phòng khách nhỏ, qua phòng khách là phòng bếp. Phòng khách cũng đồng thời là nơi đặt tủ thờ gia tiên. Từ khi Bình về làm dâu, cô có thể dọn dẹp mọi thứ trong nhà, riêng ban thờ gia tiên thì mẹ chồng luôn là người trực tiếp làm, Bình chỉ đứng bên cạnh quan sát, giúp việc lặt vặt. Bài vị trên ban thờ được chạm khắc cầu kỳ, sơn thếp quện với khói hương lâu ngày ngả màu vàng sậm. Bát hương luôn được bà chăm nom rất cẩn thận, chu đáo. Đằng sau bát hương là một chiếc kỷ nhỏ, trên kỷ có ba chiếc đài. Hai bên bát hương, ngoài hai cây đèn còn có hai con hạc bằng đồng đứng chầu. Ở phía ngoài, gần hai đầu hương án là hai ống hương dùng để đựng hương. Ngoài ra còn  có đôi song bình lúc nào cũng được cắm những loại hoa ngát hương. Mùa sen thì cắm sen, mùa huệ thì cắm huệ, mùa cau thì cắm mấy nhành hoa cau...

    Mẹ Bình đã ngoài bảy mươi nhưng nhỏ người nên trông bà vẫn nhanh nhẹn, hoạt bát, tinh anh. Bà có mái tóc rất dài, dày, trắng muốt. Bà vẫn thường mất công chăm mái tóc. Mấy chục năm trời, chẳng dùng một loại dầu gội nào hết, chỉ có duy nhất nắm lá đun với bồ kết. Mái tóc luôn óng ả, mượt mà. Bình gần như không bao giờ nhìn thấy bà chải đầu, nhưng mái tóc luôn gọn gàng. Bà thường dùng một chiếc cặp ba lá để cặp cho chặt sau khi vấn tóc lên. Ngôi rẽ bên trái, thẳng tắp, với rất nhiều những chiếc cặp tăm ghim hai bên để không có một sợi nào lòa xòa xuống mặt. Duy nhất một lần Bình thấy bà dùng một chai dầu rất nhỏ, không biết là tinh dầu gì, nghiêng một giọt ra lòng bàn tay, xoa thật đều, rồi vuốt khẽ lên mái tóc, khiến mái tóc sáng óng ánh.

    Bà ăn mặc cũng giản dị, nhưng rất cẩn thận. Bà nói, ở nhà hay ra đường, người phụ nữ phải luôn đàng hoàng, lịch sự. Sự cẩn thận, đúng lề thói, một nếp ăn thói ở có lẽ từ lâu lắm trong bà, được bà chú ý giữ gìn, đôi khi quan trọng hơn rất nhiều so với vẻ ngoài như sự sang trọng giàu có. Lúc nào Bình cũng thấy ở bà một sự nghiêm ngắn, trang trọng, hài hòa. Bà thường mặc áo dài khi đi đám cưới. Áo dài nhung, quần lụa. Không quên lục từ trong tủ gỗ cũ, lấy ra đeo lên cổ chuỗi hạt màu ngọc lục bảo, và một đôi hoa tai đồng màu. Xong, bà choàng lên vai chiếc khăn len được móc rất tinh xảo. Bấy giờ bà mới xỏ chân vào đôi hài nhung thêu họa tiết hoa thị đã được chải cẩn thận. Ra phố, bà sẽ gọi xích lô. Có một thời xích lô thoái trào, đợi cả tiếng đồng hồ cũng chỉ thấy một vài chiếc bẩn thỉu dùng để chở lợn ra lò mổ, thì bà đi bộ. Nay khách du lịch đến nhiều, xích lô tưng bừng trở lại, thì bà lại gọi xích lô. Vợ chồng Bình năn nỉ thế nào bà cũng không chịu lên taxi. Bình hay đứng trên ban công tầng hai, nhìn qua những cái lá nhỏ của cây hoa giấy, ngắm mẹ chồng khẽ nâng tà áo dài, nhẹ nhàng bước chân ngồi vào xích lô, lưng luôn thẳng. Cho dù đã dựa khẽ vào thành ghế mà lưng bà vẫn thẳng, với một cái đầu ngẩng cao, gương mặt thanh thản, nhẹ nhõm.

     

    xichlolucnghingoi

    Mặc dù rất cẩn thận, thậm chí có phần khắc kỉ, mẹ chồng lại rất tôn trọng sở thích, lối sống của hai con. Ngày nghỉ, ngày lễ, Bình hay rủ chồng đi xem phim, đi siêu thị, đi dã ngoại cùng bạn bè ra ngoại ô và thường trở về lúc đã mệt nhoài, ăn uống no nê, rượu bia say nồng. Nhưng về đến nhà, bao giờ cũng thấy một nồi cháo chim bồ câu với hạt sen mẹ chồng đã hầm sẵn vẫn còn ấm trên bếp. Nghe thấy tiếng mở cửa, bao giờ mẹ cũng ra đón cửa. Mái tóc dù vừa từ trong phòng ngủ đi ra, vẫn gọn gàng, óng mượt. Mẹ sẽ bảo: Hai đứa ăn dặm thêm bát cháo cho ấm bụng rồi hẵng đi ngủ. Chơi bời cả ngày, ăn uống linh tinh, làm sao đảm bảo sức khỏe chứ.

    Mặc dù mẹ chồng chẳng bao giờ trách mắng về việc hai vợ chồng đi chơi, bỏ mặc mẹ ở nhà, nhưng dần dần, chính những nồi cháo còn nóng lúc nửa đêm đã khiến Bình không còn hứng thú với các cuộc vui bên ngoài.

    Hai vợ chồng sống với nhau tính ra đã bốn năm. Nếu không nói đến việc không có con thì họ rất hạnh phúc. Một đôi lần, Bình bắt gặp ánh mắt khao khát của mẹ chồng khi nhìn thấy con dâu nhà hàng xóm ngồi cho con bú ngay trên bậu cửa. Đứa bé ấy rất mập mạp, trắng trẻo, xinh xẻo như một con búp bê. Bà mẹ trẻ cũng xinh xắn nữa. Hai má lúc nào cũng phinh phính, đỏ hồng, với một bên ngực áo luôn ướt đẫm vì sữa.

    Và Bình luôn rơm rớm nước mắt trước cảnh ấy. Hai người đã đi khám nơi này nơi nọ, bao giờ mẹ chồng cũng lặn lội đi theo. Rồi uống thuốc nam, thuốc bắc. Rồi kiêng khem, rồi tính tính toán toán, vẫn chẳng có được mụn con nào. Vợ chồng ở với nhau mà không có con chẳng khác gì trồng một cái cây, chăm bẵm mãi, tưới tắm mãi mà không ra hoa kết trái.

    Mặc dù chồng không nói gì, mẹ chồng cũng không bóng gió gì, nhưng Bình luôn cảm thấy một gánh nặng vô hình về đứa con, lại phải là con trai, để nối dõi tông đường.

    Đột nhiên, lúc này nghe thấy mẹ chồng nói về việc xin con nuôi, Bình cảm thấy đất đang sụt dưới chân mình. Nỗi ngờ vực bấy lâu còn xa xa, mờ mờ, giờ hình như đang hiển hiện rất rõ rệt ngay trước mắt Bình.

    Tại sao lần nào hai vợ chồng đi xét nghiệm, mẹ chồng cũng đi cùng? Và lần nào mẹ cũng bảo, các con bận đi làm thì về trước đi, để mẹ đợi lấy kết quả cho.

    Tại sao mẹ không dằn hắt, bóng gió Bình về việc không có con?

    Phải chăng… phải chăng nguyên nhân là do con trai bà?

    Nghĩ tới đây, Bình muốn tự vả vào má mình. Thấy tội lỗi đang tràn ngập trong lòng. Chắc không phải thế chứ. Chẳng lẽ mẹ lại giấu mình, bắt tội mình?

    Thực tâm, xét cho cùng, nếu đúng nguyên nhân xuất phát từ phía chồng, thì Bình cũng không hề nghĩ đến việc sẽ từ bỏ anh, mặc dù nỗi khát khao được làm mẹ thì chưa bao giờ nguôi.

    Và Bình bắt đầu chờ đợi trong một nỗi run rẩy không thể kiềm chế được. Chờ đợi cái khoảnh khắc mẹ chồng nói đến việc sang chùa xin con nuôi cho hai vợ chồng.

    Cũng không phải Bình chưa hề nghĩ tới việc xin con nuôi. Nhưng Bình hay nghĩ cực đoan. Bình nghĩ, con cái thế nào, quan trọng nhất là bố mẹ ra sao. Mà những bà mẹ, ông bố tử tế thì chẳng bao giờ bỏ con đi. Đồng nghĩa với việc, những người đã ruồng bỏ con cái thì chẳng ra gì. Mà bố mẹ đã không ra gì, ai dám chắc những đứa trẻ bị bỏ rơi ấy, cho dù được mình yêu thương như con đẻ, lớn lên nó đã thành người tử tế. E rằng, lúc ấy lại ân hận, giá mình không mang nó về.

    Nhưng Bình chờ mãi, chờ mãi mà mẹ chồng vẫn không nói với Bình về việc xin con nuôi. Bình lại nghĩ, hay mẹ lẳng lặng làm việc đó sau lưng mình, không cho mình biết. Cũng không thể như thế được, vì đã xin về, chẳng lẽ lại mang đi nuôi ở nơi khác?

    Nỗi dằn vặt khiến Bình như biến thành người khác. Ăn nói chỏng lỏn với mẹ, bẳn gắt cáu kỉnh với chồng, bỏ ăn đến phát ốm.

    Đột nhiên có một biến cố xảy đến. Mẹ chồng bị tai biến mạch máu não, liệt nửa người, mọi sinh hoạt đều phải nhờ đến sự trợ giúp của máy móc và nhiều khả năng sẽ không qua khỏi.

    Cả hai vợ chồng Bình đều hoảng loạn. Bấy lâu, mẹ như một chỗ dựa cho hai vợ chồng những lúc bát đũa xô lệch, nay mẹ nằm một chỗ, sự hẫng hụt đã thành một khoảng trống rất lớn.

    Bình gần như ở bên mẹ chồng cả ngày, chải tóc cho bà bằng cái lược sừng đen bóng, hằn cả vết tay cầm. Ba ngày, năm ngày, một tuần… mẹ chồng vẫn không có khả năng phục hồi. Bác sĩ nói, gia đình hãy chuẩn bị tinh thần đi. Nhưng Bình không tin. Mẹ chồng cô vẫn nhanh nhẹn hoạt bát như thế, vốn dĩ không có trọng bệnh, vốn dĩ không có cái dáng vẻ kiệt quệ của tuổi già, chẳng lẽ bà đi với ông sớm thế. Mỗi lần về nhà lấy đồ, tranh thủ dọn dẹp nhà cửa, Bình lại nhớ cái dáng nhỏ bé, thanh thoát của mẹ chồng. Bà hay ngồi trên cái ghế có lót một miếng đệm được may bằng vải hoa con công, tỉ mẩn vá một chiếc tất cũ, đan một chiếc mũ len cho trẻ hàng xóm, thậm chí là khâu một chiếc áo cho con mèo mun mặc chống rét. Không có bà, căn nhà trống trải biết mấy.

    Rồi đến ngày thứ mười thì bà tỉnh lại, với một ánh mắt tinh anh đặc biệt mặc dù không giấu nổi mệt mỏi.

    Bà đặt bàn tay nhỏ nhắn, không một vết đồi mồi, với những cái móng đã bợt bạt đi từ hôm bà ốm vào tay Bình. Bà nói rất khẽ nhưng rõ ràng:

    - Con về nhà, vào phòng mẹ, trong cái tủ gỗ ở đầu giường, ngăn thứ hai, có một cái hộp khảm trai. Con lấy cái hộp ấy ra đây cho mẹ. Nhớ, đừng để cho chồng con biết.

    Lần đầu tiên Bình bước chân vào phòng riêng của mẹ chồng từ khi về làm dâu. Căn phòng mới vắng bóng bà mấy hôm đã bắt đầu bốc lên mùi ẩm mốc. Bình mở cái cửa sổ nhỏ, vén lên cả bức rèm được bà móc bằng kim móc, chắc số tuổi cũng phải tương đương với tuổi của Hải. Căn phòng sáng lên một chút. Bình tìm cái tủ gỗ, mở ngăn thứ hai, lấy cái hộp khảm trai. Cái hộp có một cái ổ khóa nhỏ nhưng không khóa. Bình rất tò mò, muốn mở xem bên trong đựng thứ gì, nhưng cô không dám.

    Trên đường tới bệnh viện, Bình đặt ra không biết bao nhiêu tình huống có thể sắp xảy ra.

    Mẹ chồng bảo Bình mở hộp, đưa cho bà một tờ giấy đã ố vàng. Thứ giấy dày, sẫm màu, thô ráp. Bà nói:

    - Đây là bí mật mà mẹ đã giấu thằng Hải hơn ba mươi năm nay. Nay mẹ nói với con, coi như mang tới cho con một gợi ý về cuộc sống của các con sau này.

    Nói rồi, bà đặt tờ giấy vào tay Bình. Bình mở ra bằng những ngón tay run rẩy.

    Tờ giấy là một bản thỏa thuận. Nội dung ghi: Ngày… tháng… năm…. Tại địa điểm… tôi là Vương Thị Phúc, nhờ chị Đàm Ngọc Hà nuôi giúp đứa con vì tôi thực sự không có khả năng nuôi con…

    Bình chỉ đọc được tới đó, thấy người nhẹ bẫng như đang bay là là, lại thấy như có ai đó đang níu mình lại.

    Mẹ chồng nói rất khẽ:

    - Mẹ đẻ của nó đã mang cái xe đạp của mẹ đi, và để nó lại.

    *

    *    *

    Sau đám tang, vợ chồng Bình quyết định giữ nguyên căn phòng của mẹ. Bình muốn tin rằng, đó là nơi mà mẹ muốn thì có thể trở về. Và cô luôn mở hé cánh cửa sổ. Cô nghĩ, nếu mẹ về, mẹ sẽ đi vào từ cửa sổ. Cái rèm nhỏ, được móc bằng những sợi chỉ trắng, với hoa văn tinh tế, cũng được vén lên.

    Nhưng Hải, và cả Bình đều không thể quen với sự vắng mặt của mẹ. Những  buổi chiều muộn, khi những tia nắng cuối cùng đã tắt trước cửa căn nhà hướng về phía tây, Hải hay ngồi lên cái ghế có miếng đệm bằng vải hoa con công mà mẹ vẫn ngồi, nhìn lên di ảnh mẹ.

    Hai tháng sau khi tiễn mẹ, Bình quyết định đưa cái hộp khảm trai cho Hải. Mẹ từng nói, giải quyết thế nào với cái hộp là tùy ở Bình. Nghĩa là Bình có thể nói, cũng có thể giấu mãi sự thật về cuộc đời Hải.

    Hải đặt cái hộp trong lòng, không mở ra. Bình rụt rè:

    - Chẳng lẽ anh …

    Hải nhìn Bình:

    - Anh biết từ hai mươi năm trước rồi. Khi người phụ nữ ấy trở lại, gặp anh ở đầu phố. Bà ấy nói sẽ trả cho mẹ anh cái xe đạp. Nhưng anh không thể đi theo bà ấy được.

    Bình ôm lấy chồng từ phía sau, gục đầu xuống bờ vai vững chãi của anh. Mùi hương trầm tỏa ra thơm ngát, lẫn với sự ngào ngạt của những bông huệ tinh khiết ở trên cao.

    Nhưng còn có điều khiến Bình kinh ngạc hơn nữa. Khi Hải giao lại chiếc hộp, Bình mang vào phòng mẹ, mở ngăn kéo thứ hai của chiếc tủ gỗ ở đầu giường bà, thì còn thấy một chồng giấy tờ khác. Một trong những tờ giấy hồng, giấy xanh chi chít con số với các loại kí hiệu đã khiến Bình bàng hoàng. Hóa ra, nguyên nhân khiến hai người không có con, hoàn toàn không phải do Hải.

    Bình ngồi bệt bên khung cửa nhỏ dẫn ra cái ban công hàng trăm năm tuổi. Giàn hoa giấy đang bung hoa rực rỡ, bên kia những cánh hoa, thấp xuống phía dưới, là con phố đang được giăng đèn kết hoa. Bình như thấy đâu đó, trong đám đông, một người phụ nữ nhỏ bé, tóc vấn gọn gàng, mặc áo dài nhung, cổ đeo chuỗi hạt màu ngọc lục bảo… thư thái, an nhàn trên chiếc xích lô có cái ghế ngồi bọc da màu đỏ…

     

    (Bản quyền thuộc về tác giả, mọi cá nhân, tổ chức muốn sử dụng lại đều phải được sự đồng ý của tác giả)

  • dobichthuy | 04 January, 2012 10:22

    alt

     

    Tản văn: ĐỖ BÍCH THÚY

     

    Bên bờ con suối nhỏ, trong một buổi chiều tà, gió lạnh hun hút thổi, thổi dạt cả những cây cải cao vồng đang nở hoa.


    Trong lúc chồng, con trai leo lên mái nhà, thay những tàu cọ mới vào chỗ bị dột, con dâu rửa lá dong gói bánh gù thì mẹ lẳng lặng mang hết cuốc, quà, cày, bừa… ra suối. Rửa thật kĩ, thật sạch, thật sáng bóng, tới mức soi gương được mới thôi. Mỗi thứ vật dụng này chốc nữa sẽ được buộc một mảnh vải đỏ. Để ở nơi khô ráo, sạch sẽ. Ra Giêng, chọn ngày đẹp, sẽ mang chúng ra nương, ra đồng.


    Năm nào cũng vậy, mẹ sẽ ngồi thừ trước một cái quà mà lưỡi của nó đã mòn vẹt đi tới mức mất cả hình thù ban đầu. Mòn tới gần chỗ cắm cái cán được làm từ một cây sồi nhỏ. Gỗ sồi nặng và chắc, làm cán quà, cán cuốc là hợp nhất. Nhưng ngay cả cái cán này cũng đã được thay hàng chục lần vì mục, gãy, duy chỉ cái lưỡi quà là được giữ lại. Mấy lần bố định mang cái lưỡi này, gộp với đống lưỡi cày gãy, xong chảo thủng mang xuống phố huyện đổi lấy đồ dùng mới, nhưng mẹ không nghe.


     

    alt

     

    Cái lưỡi quà vốn giống hình một cái cánh bướm, nên người ta còn gọi là cuốc bướm. Dùng quà để làm cỏ vườn, vun gốc ngô, vun luống lạc, luống khoai hay vạc bờ ruộng nước đều rất quen tay.


    Vì sao mẹ cứ ngồi nhìn cái lưỡi quà, nhìn mãi, mỗi năm tết đến, mỗi lần mang nó ra cọ rửa, “mặc áo mới” cho nó, cùng nó “ăn tết”?


    Là vì cái lưỡi quà này có một câu chuyện.


    Nó là món hồi môn duy nhất mẹ được mang theo khi về nhà chồng. Bà ngoại đã phải bán con dê cuối cùng còn lại trong nhà, mua cho mẹ một bộ váy áo mới, và một cái lưỡi quà. Ông ngoại, sau một năm tròn nằm một chỗ, người mỏng như một miếng ván sàn, tiền mua thuốc bằng một con trâu, một con ngựa, sáu con dê, gà vịt không kể, cũng không ở lại với thế gian được lâu hơn.


    Còn con dê cuối cùng, ngay trước khi ông ra rừng mả, bà ngoại đã mang bán, để mua cho con gái một cái áo mới và một cái lưỡi quà. Tiền bán con dê chỉ mua được một cái áo mặc ngoài và một cái lưỡi quà, cái váy cô dâu mặc hôm về nhà chồng vẫn là váy cũ. Mẹ đã phải ra khỏi nhà rất nhanh, trong nước mắt chan chứa, với một cái xoỏng bọc giấy đỏ, bên trong đựng cái… lưỡi quà, trước khi ông ngoại trút hơi thở cuối cùng.


    Và với cái lưỡi quà này, mẹ đã cùng người trai mồ côi dựng lều trên mảnh nương cao chót vót, đứng từ đấy nhìn về làng chỉ thấy những mái nhà nhỏ như những cái nấm.


    Cái lưỡi quà đã lặng lẽ đi bên cạnh cuộc đời mẹ. Mang lại những tia sáng mặt trời nhỏ nhoi và ấm áp.


    Mỗi khi cầm tới nó, nhìn nó, mẹ lại nghĩ tới con dê, nghĩ tới người cha năm nào mỏng dính như tấm ván sàn dưới tấm chăn đã rách thủng lỗ chỗ. Lại nghĩ, nếu tiền bán con dê ấy không phải để mua áo cưới, mua quà cưới, thì ông có đi ngay trước tết ấy không? Lại nghĩ, nếu mình không theo đứa trai mồ côi lên núi dạo ấy, thì mấy năm sau hai người có được ở bên nhau không? Lại nghĩ, nếu không có lưỡi quà này, thì bốn bàn tay có nuôi nổi hai cái miệng, rồi còn sinh con đẻ cái không?


    alt

     

    Nước vẫn chảy dưới chân. Dòng nước này bắt nguồn từ trong lòng ngọn núi mà hai mươi năm trước hai người đã dựng lều. Bảy năm sau thì dọn xuống lưng chừng. Sáu năm nữa thì dọn hẳn xuống chân núi. Nước chảy như cuộc đời con người đang chảy, lúc yên lặng, lúc dồn dập, lúc vấp váp, ồn ào. Nước chảy qua cái lưỡi quà mà bà đang ngâm trong nó. Rồi như hàng ngàn lần đã từng, bà lại kì cọ cho đến khi nó sáng bóng lên. Lại buộc cho nó một mảnh vải đỏ. Lại cho nó nghỉ ăn tết cùng cả nhà.


    Số phận cái lưỡi quà này cũng giống số phận nghèo khó của hai vợ chồng. Nghèo khó đến độ bữa cơm nào hai người cũng san đi, rồi san lại từng hạt cơm, từng miếng sắn đắng ngắt trong hai cái bát mẻ. Nghèo khó và cực nhọc. Lúc chồng dùng quà thì vợ dùng tay không bới đất, lúc vợ dùng quà thì chồng vác đá xếp bờ giữ nương. Chỉ có điều, cái lưỡi quà thì mòn đi, còn tình chồng vợ thì quấn quýt mãi.


    Dưới cái lưỡi quà này, đất đai đã mỡ màng và mềm tơi. Dưới cái lưỡi quà này, ngô đã ra bắp, lúa đã trổ đòng. Dưới cái lưỡi quà này, ba đứa trẻ đã chập chững lớn lên. Và dưới cái lưỡi quà này, những cây cải đã nở hoa vàng.

     

     

  • dobichthuy | 08 November, 2011 09:54

    Cách đây khoảng ba chục năm về trước, một trong những "tài sản" quý mà nhà nào ở Hà Giang cũng cố gắng "tậu" cho bằng được là một cái vỏ chăn bằng vải hoa Trung Quốc. Có hai loại mà dân tình ưa chuộng là vải in hình những bông hoa rất to, giống như hoa phù dung và vải in hình con công - thường gọi là chăn con công, cả hai loại này đều có màu đỏ là chủ đạo. Riêng vải con công lại có nhiều loại: một công, hai công (có hai con công trống và mái âu yếm nhau), bốn công (tức bốn công đang tạo dáng)... Mỗi cái vỏ chăn hồi ấy, có lúc trị giá đến hàng chỉ vàng, và nhà nào có chăn con công thì thôi rồi, giữ gìn, cất giấu cho thật cẩn thận. Và cũng hồi ấy,  rất nhiều vụ trộm lẻn vào nhà chỉ lấy đi mỗi cái vỏ chăn con công làm gia chủ bần thần cả tháng giời. Ở rừng, hôm nào trời nắng ráo, ấm áp là y như rằng, cả làng đỏ rực lên vì nhà nhà mang chăn ra phơi.

     

     

    alt

    Loại vải này bây giờ vẫn rất được các cô gái vùng cao ưa chuộng. thường thì các cô dùng để khâu thành những cái khăn vấn đầu như trong ảnh, cũng có khi dùng để may phần vạt trước của cái váy, trông hơi giống cái tạp dề. Chắc cũng vì màu sắc sặc sỡ nổi trội của nó, đỡ cho một phần công sức phải xe lanh, nhuộm lanh, dệt lanh.

     

    Tại sao nó đắt đỏ đến thế, quý giá đến thế? Chắc là vì ở thời bao cấp, cái thứ vải gì trong nước sản xuất được cũng không thể đem so với nó, và quan trọng hơn, nó lại là thứ bị cấm đoán buôn bán. Thì vốn dĩ cái gì bị cấm đoán cũng có giá cả.  Dân buôn vải con công từ biên giới Trung Quốc về thường phải quấn tấm vải quanh người, mặc quần áo thật rộng (giống y như cánh buôn thuốc lá ở biên giới Tây Nam bây giờ) để che cho kín. Rồi ai muốn mua thì phải nhờ người này người nọ môi giới, người bán cũng phải biết chắc người mua đó không phải do mấy ông hải quan cài vào mới dám bán.Vải con công hồi ấy, cùng với phích nước, đèn pin, len sợi... là những mặt hàng xuất sứ từ TQ hấp dẫn vô cùng. Thế nên hồi chiến tranh biên giới, phía TQ thường thả rất nhiều những bao tải hàng, bên trong lót nilon để chống thấm nước, cho trôi trên sông Lô. Những món hàng này được bà con ta gọi là hàng tâm lý chiến. Hồi ấy mình còn bé, chẳng biết hàng tâm lý chiến là cái quái gì, và chắc chắn bà con ta cũng chẳng vì mấy cái bao tải hàng cho không biếu không ấy mà bỏ quê hương đất nước chạy qua biên giới. Trong những bao tải trôi lềnh phềnh trên sông ấy thường có gạo (rất ngon), mì chính, đường, vỏ chăn, đèn pin, len sợi... tức là toàn những thứ cần thiết cho nhu cầu hàng ngày của mỗi gia đình, đặc biệt là trong sự khó khăn của đời sống bao cấp.

     

    alt

    Đây chính là cái đuôi công rực rỡ trên vải

     

    Hai ông anh nhà tôi cũng từng vớt được một cái bao tải như vậy. Trong cái bao tải có cả gạo, cả phích nước, cả một bọc len sợi. Hôm ấy hai anh em rủ nhau bơi mảng qua sông để cắt cỏ về nuôi cá thì nhìn thấy cái bao tải, thế là anh cả nhảy ùm xuống vớt ngay lên, bỏ cả buổi cắt cỏ. Nhưng mang về nhà thì bố mẹ tôi bỏ hết vì nghe nói trong gạo có thuốc độc (cái này chắc là sản phẩm của mấy bác tuyên huấn), còn phích đựng nước thì nghe nói trong ruột của nó bao giờ cũng có một viên thuốc gì đó (chắc cũng độc, he he), hễ rót nước sôi vào thì chất độc sẽ phát tác!!! Thế là mẹ giữ lại có mỗi bọc len. Bọc len ấy đan được cho bé Thúy một cái áo. Đấy là lần đầu tiên trong đời tôi được mặc một chiếc áo đẹp đến độ cả lớp phải xúm xít vào sờ mó, ngắm nghía. Bọc len có rất nhiều cuộn, mỗi cuộn một màu, khiến cái áo gần như đủ bảy sắc cầu vồng. Và thế là tôi diện nó suốt ba bốn năm học tiểu học, cho đến lúc nó vừa cộc lên quá rốn, vừa thủng lỗ chỗ mới chịu bỏ đi. Mà cũng chưa bỏ hẳn, mẹ lại dỡ ra, nối các đoạn len với nhau, đan tiếp thành một cái mũ.

     

    Lại nói chuyện vỏ chăn con công. Về sau này, khi vỏ chăn cong công không bị coi là "hàng cấm" nữa thì cũng là lúc giá trị của nó đã vơi hao đi rất nhiều. Và nó không chỉ được dùng làm vỏ chăn mà nhiều gia đình người dân tộc thiểu số lại còn dùng để làm rèm cửa buồng ngủ cho các cô gái. Thậm chí dùng làm khăn đội đầu, làm vạt trước của váy, giống như cái tạp dề.

     

    Còn tôi thì đến tận bây giờ vẫn giữ một chiếc. Cái vỏ chăn này mẹ tôi khâu bằng tay (tất nhiên là phải mua trong thời kì vụng trộm), rất khéo, có "cửa" để luồn ruột vào. Từ khi ra khỏi nhà, đi đâu tôi cũng mang theo nó. Mang cả về Hà Nội học đại học, đắp suốt mấy năm trời. Sau này khi có gia đình riêng, cũng mang ra đắp, nhưng đến lúc nó thủng một lỗ thì cất đi. Giữ mãi, mỗi lần dọn tủ, nhìn thấy nó lại nhớ những năm tháng thiếu ăn, thiếu mặc nhưng lúc nào cũng ăm ắp niềm vui, ăm ắp khát khao mơ mộng, và... nhớ mẹ nữa. Cho dù bây giờ mẹ đang ở ngay bên cạnh mình, 5 phút phi xe máy là có thể nhìn thấy mẹ, nhưng vẫn nhớ. Kì lạ thế chứ. Giống hệt hồi bé, chia tay mẹ ở chân dốc để vào trường, ở trường có nửa ngày mà cũng nhớ mẹ quay quắt.

     

    Giờ, chẳng ai còn thèm đắp cái vỏ chăn ấy nữa.

  • dobichthuy | 01 November, 2011 15:22

    alt

     

    Mình có một đứa em, gái, già roài, băm hai nhát roài, tính theo các cụ là băm ba nhát, thế mà vẫn chưa thằng nào rước đi cho. Lâu lâu nó gọi điện, nhìn thấy tên nó hiện trên máy mình lại ôm ngực rồi mới a lô. Mày đừng có nói là không phải em gọi điện mời đám cưới đấy nhá. Nhắc đến như thế rồi mà nó vẫn bảo: Không phải. Thế có điên tiết không chứ.

     

    Lâu lâu, hễ gặp mình, là cái người nói chuyện có quen biết nó lại hỏi: Nó lấy chồng chưa? Đừng có bảo là chưa đấy nhá!


    Mình lại phải nhăn nhó: Ma nó lấy à?

     

     

    Hôm nọ chat nhóm với một đứa nữa. Hai chị em xâu xé nó, đại khái mày là đồ vứt đi, từng ấy tuổi mà chưa biết mùi cứt trẻ con thì đúng là không thể tiêu hóa nổi, giờ này mà không dùng đến thì chỉ có ném vào thùng nước gạo thôi  v.v và v.v

     

    Nó cười nhăn nhở (mình đoán thế).

     

    Rồi mình đưa ra một phương án: Cq tao đang có một anh chưa lấy vợ bao giờ. Nhà văn hẳn hoi nhá. Giàu nhá, có nhà mặt tiền SG chừng 6,7 tỉ nhá, có ô tô riêng nhá...

     

    Hai đứa nhao nhao: Ai thế, ai thế? Duyệt ngay! duyệt ngay!

     

    Mình bảo, từ từ, nghe tao nói nốt: Anh này lại sống rất chuẩn mực. Không bia rượu, không gái gú, không cờ bạc, cá độ... (mình chỉ nói thế, không nói anh í  không bia rượu vì anh í bị bệnh gút và tiểu đường;  anh í không cờ bạc vì trình độ kém; và không gái gú vì đã... quá tuổi! He he)

     

    Một đứa cảnh giác: Có hỏng không? Sao giờ này lại có của quý hiếm cỡ sách đỏ  như thế tồn tại trên đời cơ chứ?

     

    Mình giả nhời: Hỏng là hỏng thế nào. Không chơi bời trác táng thì hỏng sao được.

     

    Đứa kia cẩn thận hơn: Chị đã kiểm tra chưa?

     

    Giả nhời tiếp: Không cần kiểm tra. Nhìn là thấy (cái này mình nói liều nên phải lảng đi), mỗi tội hơi béo.

     

    Đứa ế chồng hấp tấp: Béo tí cũng không sao.

     

    Mình giả vờ ngập ngừng: Nhưng hơi thấp.

     

    Nàng kia mau mắn: Thấp cũng chả sao. Thời buổi nào mà quan trọng cao thấp chứ. Với lại chị xem bà nàng nhà mình thì cao ráo với ai mà dám đòi hỏi này nọ chứ. Chị cứ là đặt vấn đề với người ta ngay cho em.

     

    Đứa ế chồng: Sao lại đặt vấn đề cho mày? Chả phải mày đã có chồng, có con rồi sao?

     

    He he, tao nhầm. Là đặt vấn đề cho mày - Đứa kia thanh minh

     

    Mình chốt câu cuối cùng: Nhưng... anh ấy... đã hơn... tám mươi tuổi!!!

     

    Ha há, mình biết là hai đứa nó đang ngã ngửa ra. Đứa đang vừa chat vừa cho con bú thì ôm con nằm kềnh ra đất, còn đứa ế chồng thì phun nước bọt phì phì, giơ chân lên giời và đấm lia lịa vào đầu (nó có thói quen rất xấu là khi bế tắc lại tự đấm vào đầu mình). 

     

    Thì mình biết làm sao giờ? Có mỗi anh ấy là có thể mối lái cho nó thôi.

  • dobichthuy | 21 October, 2011 15:56

    Tôi vừa đi viếng một đám tang. Thì cũng giống như những đám khác, người đến, đăng kí, chờ gọi tên, vào viếng, nhìn mặt người đã khuất, chia buồn với người nhà, ra đến cổng thì nhớ bóc miếng băng đen dán trên ngực áo đi, vứt miếng tỏi vẫn nắm trong tay đi. Nếu có tâm trạng buồn thương thì tâm trạng ấy cũng chỉ tồn tại  trên quãng đường từ nhà tang lễ đến nơi tiếp theo là cùng. Rồi mỗi năm đến ngày giỗ, cũng phải có người nhắc mới nhớ, lại thốt lên: Ôi, nhanh thế nhỉ. Rồi người kia sẽ nói: Thì các cụ đã có câu sống lâu chết chóng mà lị.

     

    alt

     

    Nhưng đám tang này ám ảnh tôi lâu hơn những đám khác. Sự ám ảnh này không đến từ người đã khuất mà đến từ người phụ nữ bên cạnh anh ta.

     

    Người phụ nữ này tôi biết từ khi tôi còn là một cô sinh viên. Ở trong kí túc xá một thời gian thấy bí bách quá, lại thường xuyên không có nước sinh hoạt, tôi và một cô bạn nữa quyết định đi tìm nhà để thuê. Đúng lúc đó thì gặp chị. Một người đồng hương, mới về HN lấy chồng, và nhà chồng chị ở ngay cổng trường báo chí, đang có nhu cầu cho sinh viên thuê. Tôi mừng quýnh, xách va li sang ngay. Căn phòng rộng chừng 6m vuông, mái lợp fibroximang, đủ kê một cái giường cho hai chị em ngủ chung, bàn học, chỗ để hòm quần áo.

     

    Dọn tới đây thì tôi mới biết chị đã từng có một đời chồng. Chồng trước lấy nhau được vài năm, chưa có con, anh này nghiện ma túy nên chị đòi ly hôn. Anh chồng lạy lục van xin thế nào cũng không được, thậm chí anh ta còn kê sẵn một ngón tay lên cột nhà rồi nói: Anh thề với em là anh sẽ bỏ ma túy. Nói xong, vung dao chặt đứt ngón tay. Nhưng chị vẫn quyết tâm bỏ và một mình di cư về Hà Nội. Coi như rũ bỏ một quá khứ buồn nhiều hơn vui. Và chắc là qua bạn bè mối lái, chị đã về làm vợ anh chàng con bà chủ nhà mà chúng tôi thuê. Anh này có nghề chữa xe đạp. Ít học. Cục cằn. Thô lỗ. Nhưng chưa lấy vợ lần nào. Coi như lấy chị về vẫn là thiệt cho anh ta. Hàng ngày chị đi làm cách nhà khoảng hơn hai chục cây số, tối mịt mới về. Lẽ thường, vợ chồng xa nhau cả ngày, mới cưới thì phải dí dủm, hớn hở lắm, nhưng thực sự là chưa bao giờ tôi thấy họ cầm tay nhau. Được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Hôm nay với mẹ chồng, mai với chồng, có hôm chị còn bị đánh bình bịch trong phòng nữa.

     

    Hai đứa tôi rốt cuộc cũng không chịu nổi căn phòng bé tí, nóng như một cái lò bánh mì, đi học thì thôi, cứ bước về đến cửa là phát ốm lên. Thế là lại quay vào trong kí túc xá.

     

    Ít lâu sau thì chị bỏ chồng (sau khi đã có cái hộ khẩu Hà Nội). Chị lấy chồng lần thứ ba. Lần này thì có vẻ như người đàn ông thực sự của đời chị đã xuất hiện. Có học thức, công việc ổn định, thu nhập khá, mặc dù hơi khó tính nhưng vẫn chịu được. Và cho đến tận bấy giờ chị mới bắt đầu sinh con. Một đứa, rồi hai đứa. Anh chị sống khá tốt, anh đã được mua nhà giá rẻ, hai con ngoan ngoãn. Đùng một cái, anh bị ung thư. Chưa đầy một năm sau khi phát hiện thì anh mất.

     

    Câu chuyện này như bịa. Chắc có người sẽ nghĩ thế. Nhưng hoàn toàn lại là một câu chuyện có thật.

     

    Người phụ nữ ấy, nhan sắc khá mặn mà, tính tình xởi lởi, mạnh mẽ, nghị lực, khôn khéo. Có người nói về cuộc đời chị là “khôn ngoan chẳng lại với giời”. Tính tính toán toán mãi, lấy hai đời chồng vẫn chẳng chịu sinh con, có lẽ vì nhìn thấy trước một tương lai bấp bênh, cho đến đời chồng thứ ba mới yên tâm sinh con, yên tâm về một sự dừng lại, yên tâm cho một quyết định quan trọng bậc nhất cuộc đời, thì anh chồng lại ra đi quá sớm.

     

    Cứ nhìn vào những ngày tháng đã đi qua cuộc đời chị thì thấy thân phận người đàn bà thật mong manh. Nếu một người đàn ông bốn mươi lăm tuổi mất vợ thì người ta sẽ thấy phần sau cuộc đời của anh ta còn quá dài. Tương lai rõ ràng còn rất rộng mở. Thậm chí tới năm mươi tuổi anh ta vẫn còn ối sự lựa chọn cho một cuộc sống mới. Nhưng một người đàn bà bốn mươi lăm, một nách hai đứa con, đều còn nhỏ, thì hoàn toàn không phải như vậy. Chị ta sẽ phải cắn răng chôn vùi những ước muốn cá nhân, dù ước muốn đó chỉ là tìm một bờ vai để tựa vào, thậm chí là tựa vào một chốc một lát rồi thôi. Mỗi khi gặp một nụ cười nào đó từ đàn ông, thì ngay lập tức gương mặt của hai đứa con lại hiện ra trước mắt. Đàn bà có thể thức đêm chăm con chồng lúc nó ốm đau nhưng đàn ông thì không. Thậm chí nhiều người đàn ông lấy vợ để vợ chăm mình. Đàn bà có thể thức suốt đêm để cửa chờ chồng còn đang say bí tỉ ngoài quán bia và cặm cụi thu dọn cái đống sản phẩm mà chồng vừa tha về nhưng đàn ông thì không. Điều quan trọng nhất, tuổi già luôn đến với đàn bà sớm hơn đàn ông rất nhiều. Và thế là, cho dù có một người đàn ông dừng lại bên cuộc đời chị, thì chị cũng sẽ cắn răng bước qua, thật nhanh.

     

    Giờ thì không tính được nữa. Những gì có thể tính được thì đã tính cả rồi. Những gì có thể tránh được thì đã tránh cả rồi. Những gì có thể làm lại được thì đã làm lại cả rồi. Những gì có thể mất thì đã mất rồi. Tôi nghĩ mãi không thôi về chị. Lại đặt mình vào hòan cảnh ấy, thì mình sẽ sống tiếp thế nào. Đúng là một bài toán quá khó đối với đàn bà.

  • dobichthuy | 18 October, 2011 15:32

    alt

     

    Tản văn: ĐỖ BÍCH THÚY

     

    Có một bộ phim truyền hình TQ rất hay từng chiếu trên VTV: Mùa quýt chín. Khi xem bộ phim này, cũng như sau này khi nhìn thấy cô Châu Tấn, lại nghĩ tới cái vườn cam mình đã từng có.


    Cam trổ hoa vào mùa xuân. Khi những màn mưa ẩm ướt bắt đầu bay bay trong cái gió mơn man thì lộc xanh bắt đầu nhú ra đầu cành, và những cái nụ tròn xoe cũng bung nở. Chỉ sau một đêm, sáng tinh mơ nhìn ra, đã thấy một mảng mênh mông trắng muốt xen lẫn với xanh mướt mát phủ lên khắp khu vườn. Hoa cam thơm hăng hắc, nhẹ  nhõm, thanh tao, mộc mạc. Và vì mùa lộc non cũng là mùa sâu bướm sinh sôi, nên từng đàn chim hàng trăm con xanh biếc cũng có, đỏ rực như lửa cũng có, từ đẩu đâu sẽ bắt đầu ào về, đậu trĩu ngọn cành. 


    Sau kì hoa nở, quả bắt đầu nhô lên từ chính cái cuống mà bông hoa vừa tàn. Những quả cam xanh bóng, nhỏ hơn viên bi, lớn rất nhanh. Suốt một mùa hè rực nắng, vườn cam vẫn xanh biếc. Những quả nằm ở phía mặt trời thường vàng một mảng, sau này khi chín rất dễ nhận ra. Vì cái màu vàng do nắng bao giờ cũng sẫm hơn. Quả hứng nhiều ánh nắng có thể hơi khô nhưng lại ngọt vô cùng.


    Và cho tới tận cái đận này đây, khi không khí lạnh bắt đầu chớm tới, khoảng cuối tháng 10 đầu tháng 11 âm lịch, thì cam bắt đầu chín. Đầu tiên là những quả ở trên ngọn, nơi hứng nhiều ánh mặt trời nhất, chín dần xuống phía dưới, rồi màu vàng đậm bắt đầu len vào trong vòm lá. Cam ở vùng núi phía Bắc có hai loại chính: Cam chanh và cam sành. Cam chanh chín sớm hơn, khoảng rằm trung thu đã thu hoạch được. Cam sành thì vào cuối năm, trước tết mới chín rộ. Cam chanh vị thanh, mát, vỏ mỏng, mọng nước, quả chín màu vàng chanh, nhưng không để được lâu. Cam đã chín phải thu hoạch ngay, để trên cây dễ bị một loài côn trùng là ruồi mắt đỏ chén mất. Ruồi mắt đỏ chỉ đục một lỗ rất nhỏ như lỗ kim châm trên vỏ, mắt thường khó nhìn thấy được, sau khi cái vỏ bị đục thủng thì chỉ nửa tháng sau là quả cam thối rữa, không ăn được nữa. Vì vậy mà người trồng cam chỉ trồng rất ít cam chanh. Riêng cam sành thì vỏ dày hơn, sần sùi, quả chín vàng đậm, nếu không thu hoạch cứ để trên cây thì dù cho đến sau tết  vài ba tháng quả vẫn không hỏng.


    Suốt một năm ròng chăm bón, làm cỏ, bỏ phân, tới mùa thu hoạch cam làng như có hội. Thương lái từ dưới xuôi đánh cả xe tải lên để thu mua. Những ngày ấy, cả nhà có khi nửa đêm mới được ăn cơm vì mải thu hoạch. Người lớn, trẻ con đều đổ ra vườn. Đến cả con chó vá cũng phấn khởi lây, cong đuôi sục sạo hết đống cam này tới đống cam khác, chốc chốc lại sủa lên đánh tiếng. Khi thu hái phải dùng kéo để cắt cuống. Phải giữ cả cuống thì cam mới để được lâu. Bố phải đóng những cái giá bốn chân rất cao, vững chãi, người cắt cam leo lên đó, mang theo một cái sọt. Cắt quả, bỏ sọt, sọt đầy lại chuyển cho người đứng bên dưới. Đôi khi lỡ tay, cam rơi bụp xuống đất, giập vỡ, đám thợ đứng bên dưới thấy tiếc lại bóc ăn tại chỗ. Vì vậy cái mùi thơm thơm, ngòn ngọt, thanh thanh của cam, mùi hăng hắc của tinh dầu từ vỏ cam chẳng mấy chốc mà lan tỏa khắp vườn, khắp nhà.


    Trong lúc thu hái, chốc chốc lại có một người hàng xóm chạy sang. “Bác bán bao nhiêu thế?’ Ý hỏi giá của mỗi cân cam. Mẹ lại trả lời khe khẽ. Và kì lạ là lúc nào trong câu trả lời của bà cũng bộc lộ một nỗi xót xa rất khó tả. Cho dù cam có được giá đến mấy thì bà cũng không giấu được cái nỗi xót xa vì phải chia tay với cả tấn quả mà ngày nào bà cũng ngắm, cũng nhìn. Và người hàng xóm sau khi biết được giá bán, thể nào cũng trầm trồ: Bác bán thế là được giá đấy. Chứ nhà X, nhà Y hôm qua vừa bán chỉ được có bằng ấy, bằng này thôi…


    Sau mấy ngày thu hái, vườn cam xác xơ như vừa qua một trận bão. Buổi sáng, bố dậy sớm tập thể dục, thể nào cũng đi một vòng quanh vườn. Nhìn lên những tán cây giờ không còn che rợp cả bầu trời nữa, lá cành tơ tướp. Và mùi men từ những trái cam chín rơi vỡ dưới đất thì vẫn bốc lên say say, ngây ngây trong cái gió đông đang tràn về.


    Cam đã về xuôi, tiền đã bỏ vào hòm, nhưng người trồng thì ngẩn ngơ suốt hàng tuần lễ. Người trồng cam nhờ trời. Có năm được mùa, có năm thời tiết xấu quả đậu ít, bọ xít lại nhiều, cam không đẹp mã, bán giá rất thấp. Cũng đành ngậm ngùi vậy.


    Trước tết, những đứa con trai sẽ làm một việc năm nào cũng làm là leo lên cây, vặt nốt những quả còn sót lại và tỉa bớt cành xấu, để cây dồn sức cho việc ra lộc, ra nụ ở những cành khỏe mạnh. Và con gái thì xách một cái xô đầy vôi với một cái chổi đi quét gốc cam. Cứ ang áng tầm cao từ ngực mình trở xuống mà quét. Mất khoảng hai buổi chiều thì cả vườn cam đã sáng bừng lên. Bố gọi đó là cho cây ăn tết.


    Tuổi thọ của cây cam rất dài. Ít cũng 20 năm, nhiều có thể 30 năm. Quãng thời gian đủ để một đứa trẻ sinh ra, trưởng thành. Nhà nào nhiều cam bố mẹ thường cho con trai mấy chục gốc để làm vốn khi nó lấy vợ.


    Tiền thu được từ cam bố mẹ đã tính toán kĩ. Khoản nào để sắm sanh một cái tết cho ra trò. Khoản nào để các con đóng học phí. Khoản nào để sửa lại cái mái nhà. Khoản nào để mua lợn giống, cá giống. Khoản nào để mua phân bón, mua thuốc trừ sâu… Và số phận nhiều gia đình từ dưới xuôi lên rừng lập nghiệp từ cách nay hàng nửa thế kỉ đã thực sự gắn với sự thăng trầm của từng mùa cam. May, chẳng khi nào cam phụ người.


    Giờ, heo may lại đã về, nhưng vườn cam thì đã xa tít tắp.­­­­­­­­­­­­­­

  • dobichthuy | 16 October, 2011 16:13
    Trưa chủ nhật, trốn ngủ, bạn Bống nhà mình hì hục viết... truyện. Lại còn vẽ cả tranh minh họa nữa. Truyện của bạn í đây:

    alt
    NÀNG TIÊN BÁNH DÂU

    Ở sâu trong khu rừng, giữa một bụi cây là vương quốc của các loài tiên (chẳng hiểu sao vương quốc của tiên lại chỉ ở trong một bụi cây? Điều này lý giải một điều là bạn ấy chẳng biết bụi cây là gì. He he!). Mỗi cô tiên có một nhiệm vụ khác nhau. Cô tiên hoa thì giúp hoa nở, cô tiên táo thì giúp táo mọc nhanh. Có một cô tiên rất đặc biệt tên là Bánh Dâu. Cô giúp cây dâu mọc nhanh và giúp quả chín hơn.

    Hàng ngày nàng tiên dâu đi thu hái 1 vài quả dâu về làm bánh phát cho mọi người. Nàng đã quen với công việc này. Mỗi khi có một con thạch sùng, nhện hay gián thì các nàng tiên đều phải vào nhà dù đang làm bất cứ việc gì (Chắc các nàng tiên giống Bống, sợ nhất mấy con này). Mỗi năm lại có một giải cho nàng tiên dũng cảm nhất và hay cứu người nhất.

    Bánh Dâu luôn cố gắng đoạt giải nhưng chưa được. 1 hôm khi đang trên đường đi hái dâu về có 3 em bé tiên đang bị một con gián bắt nạt. Bánh Dâu nghĩ nếu gọi Tiên Lực sĩ thì sẽ muộn mất, cô liền nhanh trí lấy một que cây đâm vào đầu con gián nhanh tróng (sai chính tả) đưa các em về.

    Khi Bánh Dâu đưa các em bé về nhà thì mẹ của em bé mới hỏi em bé: "Sao da các con lại xước thế này?". Bé đáp: "Chị... hu hu.... đã...hu hu...bị... đánh...". "Chị Bánh Dâu đánh ư? Ôi, bác không ngờ cháu lại như thế. Bác sẽ báo ủy ban phường (Ặc! Không biết tại sao trong vương quốc tiên lại có Ủy ban phường???)

    Bánh Dâu chạy đi vào rừng ôm mặt khóc. Cô nhận da (sai chính tả tiếp) mình ở trong rừng bồ công anh. Cô nói:

    Mình... hắt xì.... đang.... hắt xì.... ở.... hắt xì.... rừng.... hắt xì... hắt xì...hắt xì... bồ công anh

    Cô bị ốm mất ba tháng liền (Bạn í giải thích là bị dị ứng hoa bồ công anh). 1 ngày mẹ của em bé đến xin lỗi Bánh Dâu vì đã hiểu nhầm cô. Cuối năm cô đã nhận được huy trương (sai chính tả tiếp) và bằng khen.

    HẾT.

  • dobichthuy | 10 October, 2011 11:15

    alt

     

    Các bạn Bách Việt đang in một tập truyện ngắn của mình. Đã có bìa. Mình thix cái bìa này quá. Vì nó có con mèo. Lâu rồi, mình muốn có môt cái bìa sách trên đó có con mèo - con mà mình cầm tinh. Nay mới có cơ hội. Con mèo này giả vờ khiêm nhường với mấy cái chân chụm chụm lại thế kia nhưng thực ra đầy âm mưu. Và cái mặt nghênh nghênh giả vờ ngây thơ mới khiếp chứ. Riêng đôi mắt gian gian kia thì không biết giống ai pà con nì???

  • dobichthuy | 09 October, 2011 16:17

    Nhắc đến những trang văn Đỗ Bích Thúy người đọc sẽ hình dung đến Hà Giang - quê hương chị, nơi Thúy đã bước những bước đầu tiên đến với văn chương, nơi đã cho chị những quả ngọt đầu mùa trên cánh đồng chữ nghĩa. Nhưng rồi một ngày, Hà Giang bỗng trở nên xa ngái...

    Chính chị cũng không thể ngờ sẽ có ngày mình về thăm quê, ở đó không còn ngôi nhà thân thương nép mình trong thung lũng mù sương, không còn “căn gác áp mái” lưu dấu những kỷ niệm ngày thơ bé. Cuộc sống đôi khi buộc con người ta phải đứng trước những lựa chọn, và có những lựa chọn khiến người ta phải đánh đổi cả một miền ký ức của chính mình.

    Mãi mãi là người từ xa đến

    - “Trên căn gác áp mái”, tập sách mới nhất của chị đã gieo vào bạn đọc một ám ảnh về nỗi tha hương, tại sao nó lại bất chợt bùng lên mãnh liệt đến vậy?

    - Thực ra đó là những tản văn, tạp bút tôi từng post trên blog. Việc công bố nó dưới dạng một tập sách bắt đầu từ gợi ý của một biên tập viên bên NXB Phụ nữ. Với tôi, viết tản văn là một cách viết thay cho nhật ký. Tôi thường chỉ viết tản văn khi có một sự tác động nào đó từ bên ngoài khiến mình phải xúc động. Đó cũng là một cách để rèn ngòi bút. Một nhà văn già (tôi cũng nói về ông trong tập sách này), đã cho tôi lời khuyên, rằng hãy viết mỗi ngày. Đừng có đợi, đợi mãi, đợi mãi, có khi cảm xúc không tới, mà rốt cuộc lại chẳng có gì. Có những thứ được tôi viết vì nó chỉ hợp với tản văn, nhưng cũng có những thứ, những chi tiết, nhỏ nhỏ thôi, tôi viết như để dành, để khỏi quên, và đến một lúc nào đó, ở trong một cuốn tiểu thuyết, hoặc truyện ngắn nào đó, tôi sẽ lôi ra dùng lại. Và như bạn cảm nhận, nỗi tha hương đúng là đã thực sự ám ảnh tôi, ám ảnh trong suốt 14 năm tôi rời xa. Tôi luôn cảm thấy mình không thuộc về thành phố này. Nơi này, mặc dù tôi sinh con, nuôi con lớn lên, đó có thể là nơi thuộc về các con tôi, nhưng tôi thì không, tôi mãi mãi chỉ là người từ xa đến, tá túc trong nó mà thôi.

    - Việc gia đình chị quyết định bán nhà ở Hà Giang để đưa bố mẹ về Hà Nội có phải là “giọt nước tràn ly” khiến cho những tình cảm với vùng cao nguyên đá trong chị bùng nổ, khiến chị thấm thía sự mất mát và trở nên day dứt với nó?

    - Quả có đúng như vậy. Trước đó, mặc dù đi xa, nhưng tôi vẫn còn bố mẹ ở quê. Còn ngôi nhà, nơi luôn ăn sâu vào trong tâm trí tôi. Ngôi nhà, không đơn giản chỉ là nơi để ở, nó là một phần cuộc đời tôi. Khi mệt mỏi tôi có thể trở về. Nó là một điểm tựa, là một sợi dây nối tôi với mảnh đất mà tôi đã cất tiếng khóc chào đời. Khi bố mẹ tôi về Hà Nội, tôi mất ngôi nhà. Một nỗi buồn không thể tả được. Nếu như một ngày nào đó, bạn về quê, bạn phải ra khách sạn để ngủ, thì bạn còn lại gì? Tôi luôn luôn tự hỏi như vậy. Tôi nhớ cái bờ hè, nhớ mấy cái gốc cây, cái taluy đầy cây dương xỉ, bờ ao mà hồi nhỏ tôi hay ngồi đó câu cá, nhớ con suối chảy róc rách ngay trước mặt, dưới suối đầy cá trèo đồi, nhớ cả tiếng tắc kè hoang hoải, nhớ một cánh cò lửa sà xuống lúc chiều tà… Tất cả chỉ còn trong ký ức. Tất cả đã không thuộc về tôi. Đây là một cuộc “cách mạng”, cả gia đình tôi đều nói vậy, và là một cuộc cách mạng không thể không diễn ra. Và chúng tôi phải chấp nhận. Chấp nhận trong một nỗi thảng thốt mà trước đó không thể ngờ tới.

    alt

    - Nhưng chị có nghĩ quê hương là những gì ta lưu giữ trong ký ức, những gì tượng hình nhiều hơn là những gì hiện hữu mà đôi khi chúng lại không như ta kỳ vọng khi có dịp tái ngộ?

    - Vùng đất nào cũng có những đổi thay theo năm tháng, theo sự biến động của cả một đất nước, một dân tộc. Quê hương tôi cũng vậy. Và tôi biết chắc rằng, có những thứ chỉ còn trong ký ức, vĩnh viễn không bao giờ xuất hiện trở lại. Và tôi thực sự biết ơn những ký ức đó. Không có nó, Hà Giang của tôi sẽ mất một phần hồn vía. Không có nó, tôi không còn động lực để trở lại. Không có nó, tôi là con số không. Và từng ngày trôi qua tôi biết, trong khi tôi ước cho đời sống của những người nông dân quê mình được khấm khá lên, đồng nghĩa với việc tôi sẽ phải lặng lẽ xếp nhiều thứ quý giá vào trong chiếc tủ ký ức.

    - Đã có người đọc những trang viết của chị để rồi tìm đến Hà Giang, và thất vọng vì những gì họ thấy không như những gì họ nghĩ. Chị coi đó là thành công hay thất bại trong văn chương của mình?

    - Cũng ít người thất vọng, đa số là bị thiên nhiên Hà Giang làm cho choáng ngợp. Càng đi lên vùng cao, càng đi vào vùng sâu, thì sự hấp dẫn của thiên nhiên, văn hóa, sản vật Hà Giang sẽ càng kỳ diệu, và không thể gặp lại ở bất kỳ nơi nào khác. Tôi không coi sự thất vọng hay choáng ngợp của người đọc văn Đỗ Bích Thúy rồi đến Hà Giang là thành công hay thất bại của mình. Gắn hai thứ đó với nhau là gượng ép. Bạn đọc hôm qua, hôm nay, bạn đọc vài chục, thậm chí hàng trăm năm nữa vẫn mê mẩn với “Đất nước đứng lên”, nhưng không thể “đòi” nhà văn Nguyên Ngọc cho nhìn tận mắt một Tây Nguyên hoang sơ, hùng vĩ như Tây Nguyên trong tác phẩm ấy.

    - Điều lớn nhất mà quê hương Hà Giang đã cho chị là gì?

    - Là cách sống. Luôn có cách để giải quyết mọi việc, cho dù khó khăn, rắc rối đến đâu. Luôn có cách để sống, đàng hoàng và tử tế. Giống như cái cây dương xỉ trong tản văn “Cái cây” của tôi. Tôi bứng nó từ cái taluy sau nhà, với cả một vốc đất rồi mang về Hà Nội, tôi trồng nó trong một cái chậu treo ngoài ban công. Trong tản văn, tôi tưởng nó chết rồi, nhưng mới cách đây một tuần, khi Hà Nội trở lạnh, mưa nhiều, nó đột ngột đâm mầm, và lại lên xanh mướt. Kỳ diệu chưa, một cái cây, đã im lặng hai năm liền, đột nhiên sống lại. Cái cây khiến tôi vui mãi, như thể vừa tìm thấy lại một vật quý giá vô ngần đã thất lạc từ lâu. Cái cây nhỏ bé đã cho tôi một niềm tin mãnh liệt vào sức sống, vào sự sống.

    Lối đi chọn người viết

    - Đọc tập tản văn của chị, người ta thấy không giống như “tản văn truyền thống”, chất truyện nhiều hơn chất văn, thậm chí có những cái mang dáng dấp của một truyện ngắn. Bản thân chị thấy sao?

    - À, điều này đúng. Bên cạnh những cái có tính chất hồi ký, tự truyện, thì có những cái được gợi ý từ một chi tiết nào đó trong cuộc sống và tôi chế biến nó thành một cái tản văn giống… truyện hơi ngắn.

    - “Dù thân xác đi đâu linh hồn vẫn mãi ở lại, như dòng nước thì vẫn trôi nhưng hai bờ luôn ở lại…”. Chị đã dùng hình ảnh ấy để nói về sự gắn bó với quê hương. Quyết định đi xa để rồi lại nhớ đến quay quắt mảnh đất sinh thành, liệu đó có phải là một sự “mâu thuẫn dễ hiểu” tự ngàn đời của những con người ly hương mà chị cũng không là một ngoại lệ?

    - Tôi nghĩ đấy cũng là tâm trạng của rất nhiều người. Tôi thi thoảng gặp một sự đồng cảm, của một người đồng hương, giống tôi, ra đi và nhung nhớ Hà Giang. Nhưng khác ở chỗ là tôi phải nói ra, còn họ thì không.

    Cuốn tạp văn mới nhất của Đỗ Bích Thúy.

    - Cũng trong tập tản văn “Trên căn gác áp mái”, chị tự nhận “không phải người hoài cổ”, nhưng những gì thể hiện trong ấy thì lại chứng minh điều ngược lại. Hoài cổ vốn dĩ là đặc tính của dân cầm bút, tại sao chị… không dám thừa nhận?

    - Không phải không dám thừa nhận mà chính xác tôi chỉ là người thỉnh thoảng bị ký ức lôi trở lại thôi (cười). Bên cạnh đó, và cơ bản, tôi là người sống cho hôm nay và nhìn về phía trước. Tôi khá tỉnh táo và làm việc với một kế hoạch chặt chẽ. Cuốn sách này, những bài viết trong đó, chỉ giống như sau một ngày rất mệt mỏi, tôi về nhà và nằm ngả lưng một chút. Nếu như lúc nào bạn cũng nghĩ về quá khứ, sống nhờ quá khứ, lúc nào bạn cũng “ngả lưng” thì còn gì là cuộc sống.

    - Nhiều người về phố và ngòi bút đã dần bén duyên với mảnh đất mới, còn chị, người ta chỉ mới thấy một hình ảnh Đỗ Bích Thúy của phố phường chứ với trang viết dường như tình yêu văn chương chị vẫn gửi gắm ở nơi cực Bắc?

    - Đúng thế đấy. Và còn chưa biết đến bao giờ tôi mới chọn được một lối đi khác. Lối đi, đôi khi là do nó chọn mình, nó cho phép mình, chứ không phải chỗ nào cũng có thể lao bừa vào.

    - Bạn bè và những người quen biết chị đều thấy một Đỗ Bích Thúy thành đạt và ngày càng xinh đẹp. Ai đó nói rằng, mọi thứ có được đều phải trả giá, bên cạnh những cái được mà cuộc sống mang lại chị đã mất những gì?

    - Như những người đàn bà khác, tôi mất tuổi trẻ. Tôi đang bắt đầu già. Bạn sẽ phải dùng từ “đẹp lão” đối với tôi đến nơi rồi đấy.

    - Từng bén duyên với sân khấu và điện ảnh nhưng rồi sau đó chị khá im ắng ở cả hai lĩnh vực này. Tại sao vậy?

    - Bạn vừa nói đến hai từ mấu chốt đấy. “Bén duyên” thôi chưa đủ, phải “còn duyên” thì mới có những thứ khác. Nhưng bên Nhà hát Tuổi trẻ cũng đang triển khai một chùm kịch ngắn của tôi. Lần này, tôi chỉ bắt đầu nghĩ và viết sau khi có “đơn đặt hàng” của nghệ sĩ Chí Trung. Với sân khấu và điện ảnh, tôi thấy cần phải chặt chẽ và kỹ lưỡng. Kịch bản không giống với tiểu thuyết hay tập truyện ngắn, nếu không được dựng, chỉ có cách xếp xó. Mà xếp xó hàng trăm trang viết thì xót ruột lắm. Tôi chọn cách “chắc ăn” là chỉ làm theo đặt hàng thôi.

    - Hiện tại chị đang theo đuổi kế hoạch văn chương dài hơi nào?

    - Tôi không có cái gì dài hơi. Dài thì hay hụt hơi, nhất là với phụ nữ. Tôi chỉ giải quyết từng cái một mà thôi. Khoảng tháng 11 tới, bên Kim Đồng sẽ in tập sách đầu tiên tôi viết cho lứa tuổi nhi đồng. Đây là một món quà tôi dành cho con gái và các bạn của nó. Cuốn sách này có xuất xứ khá vui, ấy là đầu tiên tôi viết cho con tôi đọc, toàn những chuyện nhí nhố gây cười của bọn trẻ học lớp 2. Ngày nào nó cũng kể cho tôi một lô những chuyện rất thú vị. Tôi thấy không ghi lại thì phí quá nên đã biến thành những câu chuyện nhỏ. Con gái tôi mang đến lớp, bạn nó xúm xít đọc cùng và còn hỏi: "Mẹ cậu mua những truyện này ở đâu thế". Sau khi có “kiểm định chất lượng” của bọn trẻ, tôi mới sửa sang sạch sẽ gửi cho NXB. Tôi đang viết tiếp phần hai.

    Đỗ Bích Thúy sinh năm 1975 tại Hà Giang. Từng đoạt giải nhất cuộc thi truyện ngắn Văn Nghệ Quân Đội năm 1998 - 1999. Đã ra các tập truyện ngắn: Sau những mùa trăng, Những buổi chiều ngang qua cuộc đời, Ký ức đôi guốc đỏ, Tiếng đàn môi sau bờ rào đá; tập truyện dài Người đàn bà miền núi; tiểu thuyết Bóng của cây sồi và mới đây nhất là tập tản văn Trên căn gác áp mái. Chị từng viết kịch bản sân khấu với vở “Diễm 500 đô hay quá khứ đòi nợ” (đạo diễn Lê Hùng). Truyện ngắn “Tiếng đàn môi sau bờ rào đá” của chị được đạo diễn Ngô Quang Hải chuyển thể thành kịch bản phim truyện nhựa với tên gọi “Chuyện của Pao”. Nhà xuất bản Kim Đồng sắp phát hành hành tập truyện thiếu nhi có tên “Hội cầu vồng” của chị. Hiện Đỗ Bích Thúy là Phó tổng biên tập Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội.

      Dương Tử Thành thực hiện

  • dobichthuy | 04 September, 2011 15:05

     

    alt

    Ngày mai con khai giảng năm học mới. Thế là chấm dứt mấy tháng hè. Thực ra, nói là nghỉ hè nhưng con vẫn phải đi học thường xuyên. Nào là tiếng Anh, nào là học đàn, học vẽ, xướng âm, toán nâng cao... lịch gần như kín mít các ngày, chỉ sướng hơn hồi trong năm học là được ngủ dậy muộn hơn. Nhiều người nói, sao bắt nó học lắm thứ thế? Phải, mình cũng nghĩ mãi về việc có nên bắt con học thêm trong kì nghỉ hè không, và mình cũng nghĩ về tuổi thơ của mình. Lúc nhỏ, tất cả các kì nghỉ hè của mình thực sự là kì nghỉ. Sách vở vứt một xó, chỉ có chơi và chơi, thật là sướng quá đi mất. Suốt ngày lê la hết trong rừng lại ra đồng, ra sông, xuống suối, câu cá, mót lạc mót ngô... Sau ba tháng, chữ nghĩa số má quên sạch. Nhưng mà mình vẫn thành người. Ờ, nhiều người cùng thế hệ mình cũng nói thế. Vậy thì hà cớ gì lại bắt con học suốt ba tháng hè?

    Bời vì một lý do rất đơn giản: Con không được chơi giống mình. Bố mẹ mình ở trong cái xó rừng ấy chả lo mình chạy đi đâu mất, quá lắm chỉ lo ra sông tắm truồng rồi nước nó cuốn đi mất thôi. Còn bây giờ, con có gì để chơi? Thoải mái nhất là mỗi chiều còn có cái sân con con của khu tập thể, hàng chục đứa lít nhít rủ nhau xuống đạp xe đạp như điên, rách cả mông quần. Còn thì chỉ có mỗi cái ti vi. Mà sao tivi lại lắm thứ hấp dẫn trẻ con thế chứ. Bọn nó có thể xem tối ngày, từ hoạt hình tới phim Hàn Quốc. Nếu bố mẹ chiều xả láng thì có thể được chơi game trên máy tính đến mờ mắt. Chán nữa thì đọc Doraemon. Nói là con không có gì chơi cũng không phải, mà là con không có gì bổ ích để chơi, những thứ con chơi toàn chứa đựng nguy cơ: thừa cân béo phì, cận thị, chậm chạp tư duy... Lâu lắm, chắc hàng tháng gì đấy, mẹ mới cho đi công viên một buổi, xem phim một buổi.


    Vậy nên, mình đã phải cho con đi học hè. Đi học cho nó khỏi hư người, cho nó khỏi hỏng mắt. Buồn chưa?

    Cho nên, con sẽ không bao giờ có được cái háo hức của ngày tựu trường, gặp bạn bè sau mấy tháng nghỉ ngơi, đứng sát vào nhau xem mày cao hơn hay tao cao hơn? Tao béo lên đấy, mặc quần lòi cả rốn ra đây này.

    Sau ngày mai, con sẽ lao vào một năm học mới. Mà mẹ cũng lao theo những lo toan mới. Lo từ việc con hay cố nhịn đi vệ sinh vì sợ bẩn, cho đến việc con không bao giờ ăn hết suất ăn trưa, cho đến việc cái ba lô đầy sách vở quá nặng so với vóc dáng của con, liệu nó có khiến con bị vẹo cột sống... cho đến bài vở của con, ước mơ của con.

    Chặng đường này còn quá dài. Chiều nào đón con ở cổng trường mẹ cũng tự hỏi: Bao giờ thì mẹ con mình đi hết con đường này?

    Bao giờ thì con có thể tự đi mà không cần phải mẹ đưa đón nữa?

    Bao giờ thì con có thể chạy về nhà, nụ cười lấp lánh, cặp má hồng hào, và bảo mẹ: "Mẹ ơi, con tới đích rồi!"?

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13  Sau»